AC Milan(T)

Thành lập: 1899-12-16
Quốc gia: Ý
Sân vận động: San Siro
Sức chứa: 85,000
Địa chỉ: Via Piccolomini 5,20151 Milano
Website: http://www.acmilan.it
Email: milan@lega-calcio.it
Độ tuổi trung bình: 29.52
 
 

Vô địch quốc gia Ý: 17
1901, 1906, 1907, 1950-51, 1954-55, 1956-57, 1958-59, 1961-62, 1967-68, 1978-79 , 1987-88, 1991-92, 1992-93, 1993-94, 1995-96, 1998-99, 2003-04

Cúp quốc gia Ý: 5
1966-67, 1971-72, 1972-73, 1976-77, 2002-03

Siêu cúp quốc gia Ý: 5 (kỷ lục)
1988, 1992, 1993, 1994, 2004

Vô địch châu Âu: 7 (kỷ lục của Ý)
1962-63, 1968-69, 1988-89, 1989-90, 1993-94, 2002-03, 2006-07

Vô địch Cúp các đội đoạt cúp châu Âu: 2 (kỷ lục của Ý)
1967-68, 1972-73

Vô địch Siêu cúp châu Âu: 5 (kỷ lục)
1989, 1990, 1994, 2003, 2007

Vô địch Cúp Liên lục địa/Giải thế giới các câu lạc bộ : 4 (kỷ lục)
1969, 1989, 1990, 2007

Medaglia del Re: 3 (kỷ lục)
1900, 1901, 1902

Cúp Liên đoàn
1915-16

Campionato Primavera: 1
1964-65

Coppa Italia Primavera: 1
1984-85

Torneo di Viareggio: 8 (kỷ lục, ngang bằng Fiorentina)
1949, 1952, 1953, 1957, 1959, 1960, 1999, 2001

 
 

Ghi nhiều bàn thắng nhất: Gunnar Nordahl:   210 bàn

Số trận nhiều nhất:  Franco Baresi:  531trận

Khoác áo ĐTQG nhiều nhất Paolo Maldini 126 trận

Hợp đồng đắt giá nhất: Rui Costa: £27 m  (Fiorentina 01/02)

Giá bán cầu thủ cao nhất: C.Zeroni:  £8.3 m (Juventus 01/02)

Ghi bàn cao nhất/mùa giải: Gunnar Nordahl 35 bàn (49/50)

Số điểm cao nhất: 82 điểm (03/04)

Số điểm thấp nhất:  27  điểm (81/82)

Chiến thắng đậm nhất: Sân nhà 9-0 Palermo (50/51) , Sân khách 8-0  Genoa (54/55)

Thua đậm nhất: Sân nhà 1-6 Juventus (96/97) , Sân khách 1-6  Alessandria(35/36)

Số trận thắng /mùa giải:  Cao nhất 27 trận (49/50) Thấp nhất 5 trận (76/77)

Số trận thua/mùa giải: Cao nhất 15 trận (30/31) Thấp nhất 0 trận (91/92)

Bàn thắng/mùa giải:  Cao nhất 118 bàn (49/50) Thấp nhất 21 bàn (81/82)

 
 
'

Associazione Calcio Milan, thường được gọi tắt là AC Milan hay Milan là một câu lạc bộ bóng đá Ý, đóng tại Milano, Lombardy, họ mặc trang phục thi đấu sọc đỏ và đen, từ đó có tên hiệu rossoneri ('đỏ-đen'). Là một trong những câu lạc bộ thành công nhất trên thế giới, họ đã đoạt Cúp C1 châu Âu 7 lần (đứng thứ hai chỉ sau Real Madrid), Cúp liên lục địa 3 lần, Serie A 17 lần (chỉ đối thủ Juventus là có số lần đoạt Scudetti nhiều hơn) và Cúp Ý 5 lần. Đây cũng là một trong những câu lạc bộ bóng đá được cổ vũ nhiều nhất trên thế giới.

Câu lạc bộ được thành lập năm 1899 bởi Alfred Edwards, một người Anh xa tổ quốc. Để kỷ niệm nguồn gốc của mình, câu lạc bộ giữ lại cách đánh vần kiểu tiếng Anh tên thành phố của nó, thay vì đổi thành theo tiếng Ý là Milano; cần lưu ý rằng cách đánh vần tiếng Ý hiện cho từ này là MEE-lahn.

Về mặt lịch sử, AC Milan (thường được gọi là 'Mìlan' ở Italia) được các tầng lớp lao động và những người thuộc các liên đoàn thương mại ủng hộ, trong khi Inter Milan, câu lạc bộ lớn khác cùng thành phố được những tầng lớp giàu có hơn ủng hộ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cả hai câu lạc bộ đã có những sự thay đổi lớn trong thành phần cổ động viên, bởi vì hiện nay AC Milan đang thuộc sở hữu của trùm truyền thông và là người theo đường lối bảo thủ, cựu Thủ tướng Ý Silvio Berlusconi, trong khi Inter Milan hiện thuộc sở hữu của ông trùm dầu mỏ hơi thiên tả Massimo Moratti. Tuy nhiên, các fan của AC Milan đa số là các người thiên tả trong khi các fan của Inter Milan đa số là các người có truyền thống thiên hữu.

Câu lạc bộ, với tên gọi ban đầu là 'Câu lạc bộ Cricket và Bóng đá Milan', được Alfred Edwards thành lập ngày 16 tháng 12 năm 1899. Chủ tịch đầu tiên được bầu là Alfred Edwards, một cựu phó lãnh sự Anh ở Milano, và rất nổi tiếng trong giới thượng lưu của Milano.

Ban đầu đội bóng gồm cả bộ phận cricket, do Edward Berra quản lý, và một bộ phận bóng đá thuộc quyền David Allison. Màu sắc chính thức được lựa chọn là đỏ và đen, để biểu hiện lòng nhiệt tình của các thành viên và sự sợ hãi của các đối thủ khi phải đối mặt với họ. Ngay lập tức, đội bóng giành được vị trí cao dưới sự dẫn dắt của Kilpin; chiến tích đầu tiên là Medaglia del Re (Huy chương Nhà Vua) vào tháng 1 năm 1900, và thắng ba giải quốc gia, các năm 1901, 1906 và 1907. Thắng lợi năm 1901 đặc biệt xứng đáng bởi vì họ đã chặn đứng mạch thắng liên tục của Câu lạc bộ Genoa C.F.C., khi ấy là đội bóng duy nhất thắng lợi ở giải nước Ý cho tới trước năm đó. Năm 1908, vì những vấn đề liên quan tới ý muốn ký hợp đồng với những cầu thủ nước ngoài, một nhóm 'cải cách' tách khỏi AC Milan và lập ra Internazionale Milano (được biết đến với cái tên Inter). Năm 1916, AC Milan đoạt Cúp Liên Đoàn, một loại cúp quốc gia thay thế cho giải Italia, lúc ấy đang bị gián đoạn vì Thế chiến thứ nhất. Cúp đó không bao giờ được công nhận là danh hiệu của Italia.

Năm 1919, đội bóng đổi tên thành Câu lạc bộ bóng đá Milan. Sau những thắng lợi đầu tiên, Milan không còn tiếp tục được mạch thắng lợi đó nữa, họ chỉ đứng ở vị trí giữa bảng xếp hạng, dù luôn chơi ở giải hạng nhất Italia. Năm 1938 chế độ Phát xít áp đặt một cái tên kiểu Ý cho câu lạc bộ là Associazione Calcio Milano. Tuy nhiên, cái tên đó đã bị hủy bỏ ngay sau khi Thế chiến thứ hai chấm dứt, nhưng vẫn giữ lại được phần đầu tiên: đội bóng được gọi là Associazione Calcio Milan, và hiện đây là tên chính thức.

Trong giai đoạn hậu chiến, AC Milan luôn nằm trong tốp ba câu lạc bộ hàng đầu Italia, và đã đoạt scudetto đầu tiên sau 44 năm vào năm 1951. Milan với bộ ba nổi tiếng Gre-No-Li người Thụy Điển là Gunnar Gren, Gunnar Nordahl và Nils Liedholm đã đoạt nhiều thắng lợi trên cả mặt trận trong nước và đấu trường châu lục. Khi ấy câu lạc bộ cũng có các cầu thủ Lorenzo Buffon, Cesare Maldini và Carlo Annovazzi. Sau scudetto năm 1951, AC Milan đoạt tiếp chức vô địch ba mùa giải Serie A năm 1955, 1957 và 1959, và hai Latin Cups, năm 1951 và 1956. Cuối cùng, trong các mùa giải từ 1947/1948 đến 1957/1957, AC Milan luôn nằm trong tốp ba câu lạc bộ đứng đầu.


AC Milan quay trở lại và thắng lợi ở giải 1961/1962. Huấn luyện viên Nereo Rocco của họ là người cải cách, nổi tiếng vì đã phát minh ra chiến thuật phòng ngự bê tông (catenaccio). Đội bóng cũng có sự đóng góp của cầu thủ trẻ Gianni Rivera và José Altafini. Mùa giải tiếp sau, nhờ những bàn thắng của Altafini, Milan giành Champions League đầu tiên, sau trận chung kết với tỷ số 2-1 trước SL Benfica trên sân vận động Wembley huyền thoại. Đây là lần đầu tiên một câu lạc bộ bóng đá Italia đoạt Champions League. Dù vậy, trong thập kỷ 1960 Milan giành được ít thắng lợi so với tiềm năng, đa phần bởi vì sự cạnh tranh quyết liệt của Helenio Herrera từ Inter.

Chỉ tới mùa giải 1967/1968 họ mới đoạt thêm một scudetto nữa nhờ những bàn thắng của Pierino Prati, cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất Serie A mùa giải đó, và Cúp các đội đoạt cúp, trước Hamburger SV nhờ hai bàn thắng của Kurt Hamrin. Mùa giải tiếp sau AC Milan đoạt Champions League thứ hai (4-1 trước AFC Ajax), và vào năm 1969 đoạt Cúp liên lục địa đầu tiên, sau khi đánh bại Estudiantes de La Plata của Argentina sau hai trận đấu với tỷ số (3-0, 1-2).

Trong thập kỷ 1970, AC Milan đoạt ba Cúp Italia và Cúp các đội đoạt cúp lần thứ hai; tuy nhiên, mục tiêu thật sự của rossoneri là scudetto lần thứ mười, và nếu thắng thì AC Milan sẽ được phong một ngôi sao cho đội. Mùa giải 1972/1973, AC Milan đã đánh mất nó trong trận cuối cùng, sau trận thua bẽ mặt trước Verona. AC Milan phải đợi tới mùa bóng 1978/1979 để đoạt scudetto lần thứ mười, phần lớn nhờ công đóng góp của Gianni Rivera, người đã từ giã bóng đá sau thắng lợi cuối cùng này.

Tuy nhiên, điều tồi tệ nhất đã tới với rossoneri: sau mùa bóng 1979/1980, AC Milan bị Liên đoàn bóng đá giáng xuống Serie B, cùng S.S. Lazio vì một vụ scandal mà hai đội này đã dàn xếp tỉ số. Năm 1981, sau khi dễ dàng thắng vô địch Serie B để được trở lại Serie A, AC Milan lại trải qua mùa giải tệ hại nhất lịch sử, bị xuống hạng một lần nữa. Đây là lần xuống hạng 'thực tế' đầu tiên của AC Milan. Đội lại quay trở lại Serie A năm 1982; tuy nhiên sự kiện đáng ghi nhớ nhất thời kỳ này của Milan lại rất đáng hổ thẹn, họ bị Cavese đánh bại với tỉ số 1-2 trên sân nhà vào mùa giải đó.

Sau nhiều rắc rối tài chính đưa câu lạc bộ vào những thời điểm đen tối, không giành được bất kỳ thắng lợi nào, ngày 20 tháng 2 năm 1986 AC Milan được Silvio Berlusconi, một doanh nhân người Milano mua lại. Berlusconi đưa về một huấn luyện viên đang nổi, Arrigo Sacchi, và ba cầu thủ Hà Lan, Marco van Basten, Frank Rijkaard và Ruud Gullit, để đưa đội trở lại thời kỳ đỉnh cao. Sacchi giành thắng lợi mùa giải 1987/1988 sau khi vượt qua Napoli của Diego Maradona.

Mùa giải 1988/1989, AC Milan đoạt Champions League lần thứ ba, đánh bại Steaua Bucuresti ở trận chung kết. Mùa giải sau đó, đội bóng tiếp tục đoạt cúp trước Benfica, và giành Cúp liên lục địa lần thứ hai. Chiếc Cúp liên lục địa lần thứ ba và là lần thứ hai liên tiếp rơi vào tay Milan năm 1991 sau khi họ giành thắng lợi trước Olimpia Asuncion. Mạch thắng lợi của Sacchi được Fabio Capello nối tiếp, huấn luyện viên này đã dẫn dắt đội bóng qua một mùa giải thành công và bất bại trước mọi đối thủ Serie A. Ngoài ba lần liên tiếp đoạt scudetto (từ 1992 đến 1994), AC Milan cũng ba lần liên tiếp tham dự chung kết Champions League: năm 1993 họ bị Olympique de Marseille đánh bại; năm 1994, họ đánh bại FC Barcelona với tỉ số 'không tưởng' 4-0; và trong trận chung kết năm 1995, Milan một lần nữa lại thất bại trước Ajax Amsterdam.

Trong giai đoạn này Rossoneri bắt đầu được gọi bằng cái tên Gli Invicibili, Kẻ Bất khả chiến bại, với mạch 58 trận liên tục bất bại. Đội bóng với một trong những hàng hậu vệ tốt nhất trong lịch sử với Franco Baresi và Paolo Maldini cùng Dejan Savićević, Zvonimir Boban và Danielle Massaro trên hàng công. Gần đây hơn, sau một giai đoạn khó khăn, AC Milan đã gắng sức quay lại thời vinh quang, với hai danh hiệu trong nước năm 1999 và 2004 và Champions League lần thứ sáu 2003. Mùa giải 2005, dù có một bàn thắng từ rất sớm của Paolo Maldini và hai bàn thắng khác của Hernan Crespo, Milan dẫn 3-0 trong trận chung kết nhưng bị san bằng 3-3, thua ba bàn trong 6 phút của hiệp hai, trước khi thua trận sau những loạt penalty trước Liverpool F.C. từ nước Anh. Đây là lần đầu tiên Milan thua trận chung kết khi mặc đồ thi đấu toàn màu trắng. Ngày 8 tháng 3 năm 2006, Milan đánh bại FC Bayern München của Đức ở vòng knock-out đầu tiên UEFA Champions League và trở thành câu lạc bộ duy nhất ở châu Âu đã tham dự vào tất cả các trận tứ kết ở các mùa giải từ 2002/2003 đến 2005/2006. Vì vậy, câu lạc bộ đã khẳng định được tư cách như là một trong những quyền lực bóng đá châu Âu, và có thể là một trong những câu lạc bộ mạnh nhất châu Âu trong giai đoạn đó. AC Milan đánh bại Olympique Lyonnais 3-1 ở vòng tứ kết mùa giải này (2005-2006) UEFA Champions League - một trận đấu mà Filippo Inzaghi và Andriy Shevchenko đã ghi những bàn thắng ở phút cuối cùng để cứu vãn A.C. Nhờ bàn thắng đó, Shevchenko trở thành người ghi nhiều bàn thắng nhất mọi thời đại ở Champions League. Milan bị FC Barcelona của Tây Ban Nha đánh bại với tổng tỉ số 0-1 sau hai lượt trận bán kết 2005/06 UEFA Champions League.

Mùa giải 2006-2007, Milan khởi đầu với 8 điểm âm khá chật vật tại Serie A, nhưng lại thi đấu tốt tại UEFA Champions League. Đầu năm 2007, đội bóng mua thêm Ronaldo, tiền đạo này giúp AC Milan thi đấu tốt hơn tại Serie A, giữ chắc ngôi hạng 3 để chú tâm vào Champions League. Tại vòng loại trực tiếp giải vô địch châu Âu, Milan đã chiến thắng lần lượt Bayern Munich, Manchester United, và cuối cùng là Liverpool để lên ngôi vô địch lần thứ 7. Trong trận chung kết, Inzaghi là người hùng, nhưng xuất sắc nhất có lẽ là Kaká, người đoạt giải vua phá lưới với 10 bàn thắng.

'
 
 
Massimiliano Allegri
Ngày sinh: 1967-8-11
Quốc tịch: Ý
Đội bóng đang tham gia: AC Milan(T)
Ngày gia nhập: 2010-7-21
Đội bóng trước: Cagliari
Đội bóng cũ: Cagliari,US Sassuolo Calcio,Grosseto

Danh sách cầu thủ của đội bóng AC Milan(T)

STT Tên Quốc tịch Vị trí Số áo Ngày sinh Cao Nặng
1 Flavio Roma Flavio Roma Ý Thủ môn 30 1974-6-21 191cm 86kg
2 Christian Abbiati Christian Abbiati Ý Thủ môn 32 1977-7-8 191cm 92kg
3 Taye Ismaila Taiwo Taye Ismaila Taiwo Nigeria Hậu vệ 3 1985-4-16 183cm 77kg
4 Paolo Maldini Paolo Maldini Ý Hậu vệ 3 186cm 85kg
5 Philippe Mexes Philippe Mexes Pháp Hậu vệ 5 1982-3-30 187cm 82kg
6 Alessandro Nesta Alessandro Nesta Ý Hậu vệ 13 1976-3-19 187cm 79kg
7 Sokratis Papastathopoulos Sokratis Papastathopoulos Hy Lạp Hậu vệ 15 1988-6-9 183cm 82kg
8 Massimo Oddo Massimo Oddo Ý Hậu vệ 17 1976-6-14 182cm 76kg
9 Marek Jankulovski Marek Jankulovski Séc Hậu vệ 18 1977-5-9 184cm 76kg
10 Gianluca Zambrotta Gianluca Zambrotta Ý Hậu vệ 19 1977-2-10 181cm 76kg
11 Daniele Bonera Daniele Bonera Ý Hậu vệ 25 1981-5-31 183cm 74kg
12 Thiago Emiliano da Silva Thiago Emiliano da Silva Brazil Hậu vệ 33 1984-9-22 183cm 79kg
13 Didac Vila Rossello Didac Vila Rossello Tây Ban Nha Hậu vệ 35 1989-6-9 184cm 74kg
14 Nicola Legrottaglie Nicola Legrottaglie Ý Hậu vệ 66 1976-10-20 185cm 73kg
15 Mario Alberto Yepes Mario Alberto Yepes Colombia Hậu vệ 76 1976-1-13 186cm 83kg
16 Luca Antonini Luca Antonini Ý Hậu vệ 77 1982-8-4 182cm 70kg
17 Mark Van Bommel Mark Van Bommel Hà Lan Tiền vệ 4 1977-4-22 187cm 85kg
18 Gennaro Ivan Gattuso Gennaro Ivan Gattuso Ý Tiền vệ 8 1978-1-9 177cm 77kg
19 Clarence Seedorf Clarence Seedorf Hà Lan Tiền vệ 10 1976-4-1 177cm 80kg
20 Rodney Strasser Rodney Strasser Ý Tiền vệ 14 1990-3-30 178cm 80kg
21 Mathieu Flamini Mathieu Flamini Pháp Tiền vệ 16 1984-3-7 178cm 67kg
22 Ignazio Abate Ignazio Abate Ý Tiền vệ 20 1986-11-12 180cm 73kg
23 Andrea Pirlo Andrea Pirlo Ý Tiền vệ 21 1979-5-19 177cm 68kg
24 Massimo Ambrosini Massimo Ambrosini Ý Tiền vệ 23 1977-5-29 182cm 72kg
25 Urby Emanuelson Urby Emanuelson Hà Lan Tiền vệ 28 1986-6-16 176cm 68kg
26 Alexander Merkel Alexander Merkel Đức Tiền vệ 52 1992-2-22 177 cm 67 kg
27 Alexandre Pato Alexandre Pato Brazil Tiền đạo 7 1989-9-2 179cm 71kg
28 Filippo Inzaghi Filippo Inzaghi Ý Tiền đạo 9 181cm 74kg
29 Simone Verdi Simone Verdi Ý Tiền đạo 58 1992-7-12 171cm 62kg
30 Nnamdi Oduamadi Nnamdi Oduamadi Nigeria Tiền đạo 90 1990-10-17 175cm 65kg
31 Antonio Cassano Antonio Cassano Ý Tiền đạo 99 1982-7-12 175cm 73kg

Tiện ích bóng đá đang trong giai đoạn xây dựng và phát triển, hiện tại chưa được hoàn thiện.

Mọi ý kiến đóng góp xin vui lòng gửi về ban biên tập bongda.vietbao.vn. Trân trọng


Top giải đấu